Việc hướng dẫn thực hiện Luật các TCTD phải được xây dựng riêng, phù hợp với đặc thù của các tổ chức tài chính vi mô.
Đó là ý
kiến của ông Nguyễn Mạnh Cường – Hàm vụ phó (Văn phòng Chính
phủ) khi nói về thực trạng và các khuyến nghị chính sách cho
các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay.
Cụ thể,
ông Cường cho rằng việc Luật các TCTD ra đời năm 2010 đã chính thức công nhận tổ
chức tài chính vi mô là một trong những thành phần của hệ thống tài chính chính
thức ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc hướng dẫn thực hiện Luật các TCTD phải được xây
dựng riêng, phù hợp với đặc thù của các tổ chức tài chính vi mô; không nên đánh
đồng với các NHTM vì như thế sẽ là hạn chế kìm hãm sự phát triển của các tổ chức
tài chính vi mô – vốn được xem là nhân tố quan trọng trong công tác xóa đói giảm
nghèo.
Ông
Cường giải thích: Về bản chất hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô cũng
không giống như NHTM. Nếu như các NHTM huy động vốn từ nhiều người để cho vay
một số người thì rủi ro của cho vay của các NHTM là rủi ro đối với xã hội còn
với các tổ chức tài chính vi mô việc huy động nguồn vốn sẽ được chia thành những
món vai nhỏ dành cho người nghèo do đó rủi ro với xã hội gần như là không
có.
“Lịch sử
cho thấy trong tất cả các cuộc khủng hoảng vừa qua đều không ảnh hưởng đến các
tổ chức tài chính vi mô, tỷ lệ nợ mất vốn chỉ vào khoảng 0,08%. Do đó, cần có cơ
chế tạo điều kiện để tổ chức tài chính vi mô được phát triển ở Việt Nam” – Ông
Cường nói.
Nói về
những hạn chế cần sửa đổi ông Cường nêu ra một số kiến nghị như
sau:
Thứ
nhất, quy định về yêu cầu kho két và cơ sở vật chất hiện nay
không phù hợp với những đặc thù của các tổ chức tài chính vi
mô, thậm chí nó còn làm tăng chi phí chuyển đổi mà người cuối cùng phải gánh
chịu lại là những khách hàng – những người nghèo tham gia vay
vốn.
Thứ
hai, NHNN cũng phải điều chỉnh tổng dư nợ cho vay vì hiện nay mức tối đa
không quá 30 triệu đồng/khách hàng là không còn phù
hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của khách
hàng.
Thứ
ba, quy định phải thường xuyên duy trì tỷ lệ về khả năng chi
trả tổi thiểu bằng 20% tổng tài sản là cao và chưa phù hợp với đặc thù trong
hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô. Trong bối cảnh nguồn vốn đã ít
ỏi tổ chức tài chính vi mô còn phải gửi 20% số tiền vào các NHTM như vậy đã
khiến nguồn vốn bị tắc dẫn đến chi phí tăng, hạn chế cho người nghèo tiếp cận
được vốn.
Thứ
tư, lãi suất hiện nay của các tổ chức tài chính vi mô khoảng 20 –
25%. Sở dĩ lãi suất cao như vậy là do đặc thù của tổ chức tài chính vi
mô huy động vốn cao, cung cấp dịch vụ tại nơi khách hàng sinh
sống, vùng sâu vùng xa, lại không yêu cầu tài sản thế chấp… Do đó, cần
hoàn thiện quy định về lãi suất theo hướng cho các tổ chức tài chính vi mô được
tự thỏa thuận lãi suất trên cơ sở bù đắp đủ chi phí nhưng cũng không mang tính
chất bóc lột người nghèo.
Các yếu
tố cấu thành lãi suất suất của tổ chức tài chính vi mô hiện nay bao gồm: Huy
động vốn bình quân, chi phí hoạt động, chi phí dự phòng mất vốn và thu nhập lãi
ròng…. Vì thế theo ông Cường muốn các tổ chức tài chính vi mô có thể giảm được
lãi suất cho vay thì bên cạnh việc các tổ chức tài chính vi mô phải nâng cao
hiệu quả hoạt động để giảm chi phí, thì cam kết hỗ trợ từ Chính phủ và cơ quan
quản lý nhà nước là rất quan trọng.
SOURCE:
KHÁNH NHI (HẠNH LÊ)
TRÍ THỨC
TRẺ
Đó là ý
kiến của ông Nguyễn Mạnh Cường – Hàm vụ phó (Văn phòng Chính
phủ) khi nói về thực trạng và các khuyến nghị chính sách cho
các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay.
Cụ thể,
ông Cường cho rằng việc Luật các TCTD ra đời năm 2010 đã chính thức công nhận tổ
chức tài chính vi mô là một trong những thành phần của hệ thống tài chính chính
thức ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc hướng dẫn thực hiện Luật các TCTD phải được xây
dựng riêng, phù hợp với đặc thù của các tổ chức tài chính vi mô; không nên đánh
đồng với các NHTM vì như thế sẽ là hạn chế kìm hãm sự phát triển của các tổ chức
tài chính vi mô – vốn được xem là nhân tố quan trọng trong công tác xóa đói giảm
nghèo.
Ông
Cường giải thích: Về bản chất hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô cũng
không giống như NHTM. Nếu như các NHTM huy động vốn từ nhiều người để cho vay
một số người thì rủi ro của cho vay của các NHTM là rủi ro đối với xã hội còn
với các tổ chức tài chính vi mô việc huy động nguồn vốn sẽ được chia thành những
món vai nhỏ dành cho người nghèo do đó rủi ro với xã hội gần như là không
có.
“Lịch sử
cho thấy trong tất cả các cuộc khủng hoảng vừa qua đều không ảnh hưởng đến các
tổ chức tài chính vi mô, tỷ lệ nợ mất vốn chỉ vào khoảng 0,08%. Do đó, cần có cơ
chế tạo điều kiện để tổ chức tài chính vi mô được phát triển ở Việt Nam” – Ông
Cường nói.
Nói về
những hạn chế cần sửa đổi ông Cường nêu ra một số kiến nghị như
sau:
Thứ
nhất, quy định về yêu cầu kho két và cơ sở vật chất hiện nay
không phù hợp với những đặc thù của các tổ chức tài chính vi
mô, thậm chí nó còn làm tăng chi phí chuyển đổi mà người cuối cùng phải gánh
chịu lại là những khách hàng – những người nghèo tham gia vay
vốn.
Thứ
hai, NHNN cũng phải điều chỉnh tổng dư nợ cho vay vì hiện nay mức tối đa
không quá 30 triệu đồng/khách hàng là không còn phù
hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của khách
hàng.
Thứ
ba, quy định phải thường xuyên duy trì tỷ lệ về khả năng chi
trả tổi thiểu bằng 20% tổng tài sản là cao và chưa phù hợp với đặc thù trong
hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô. Trong bối cảnh nguồn vốn đã ít
ỏi tổ chức tài chính vi mô còn phải gửi 20% số tiền vào các NHTM như vậy đã
khiến nguồn vốn bị tắc dẫn đến chi phí tăng, hạn chế cho người nghèo tiếp cận
được vốn.
Thứ
tư, lãi suất hiện nay của các tổ chức tài chính vi mô khoảng 20 –
25%. Sở dĩ lãi suất cao như vậy là do đặc thù của tổ chức tài chính vi
mô huy động vốn cao, cung cấp dịch vụ tại nơi khách hàng sinh
sống, vùng sâu vùng xa, lại không yêu cầu tài sản thế chấp… Do đó, cần
hoàn thiện quy định về lãi suất theo hướng cho các tổ chức tài chính vi mô được
tự thỏa thuận lãi suất trên cơ sở bù đắp đủ chi phí nhưng cũng không mang tính
chất bóc lột người nghèo.
Các yếu
tố cấu thành lãi suất suất của tổ chức tài chính vi mô hiện nay bao gồm: Huy
động vốn bình quân, chi phí hoạt động, chi phí dự phòng mất vốn và thu nhập lãi
ròng…. Vì thế theo ông Cường muốn các tổ chức tài chính vi mô có thể giảm được
lãi suất cho vay thì bên cạnh việc các tổ chức tài chính vi mô phải nâng cao
hiệu quả hoạt động để giảm chi phí, thì cam kết hỗ trợ từ Chính phủ và cơ quan
quản lý nhà nước là rất quan trọng.
SOURCE:
KHÁNH NHI (HẠNH LÊ)
TRÍ THỨC
TRẺ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét