Post Top Ad
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017
Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN RỐI TINH VÌ LẮM BẬC
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đang được tính quá vụn vặt, thang mức thuế quá dày, mức thu nhập phải chịu thuế cao nhất lại chưa hẳn cao. Điều này khiến người nộp thuế, doanh nghiệp (DN) gặp khó khăn.
PhứcNgười
giàu có khác nhau về ý tưởng, khác nhau về quy trình và thậm chí là cách tư duy
của họ cũng không tương đồng, thế nhưng có một thứ cố định ở nhiều người giàu,
chính là thói quen.
Xa rồi
những ngày người giàu và thành công là những người đi làm thuê với mức lương
cao, giàu theo cách truyền thống. Giờ đây, những người giàu trên thế giới đều tự
làm việc cho chính bản thân mình, họ xây dựng ước mơ, mở mô hình kinh doanh và
sẵn sàng đương đầu với thử thách.
Tất
nhiên, mỗi người giàu lại có cách thức riêng để giàu, nhưng họ có những điểm
chung mà người bình thường ít sở hữu. Nếu muốn biến giấc mơ thành hiện thực, xoá
bỏ đói nghèo và trở thành người giàu, có lẽ bạn nên học tập theo những thói quen
này, đưa nó vào một phần của cuộc sống.
1. Đọc
thật nhiều
Nhiều
người lấy ví dụ về những người giàu có ít đọc sách, bạn có nhận thấy họ là thiểu
số không? Đại đa số người giàu đều đọc sách nếu không muốn nói là đọc rất nhiều.
Không phải những cuốn chuyện ngôn tình 3 xu hay những loại tiểu thuyết sến sẩm
mà giới trẻ hay đọc, người giàu đọc những cuốn sách thực tế hơn để hiểu hơn về
thế giới cũng như những gì diễn ra xung quanh mình.
Họ coi
những cuốn sách với nội dung giáo dục người đọc là bạn đồng hành, họ tích luỹ
những kiến thức bên trong đó và rồi đôi khi áp dụng hoặc biến tấu nó trong đời
thực.
Từ sách
kinh doanh, những bài học thành công hay thậm chí là những cuốn sách hướng dẫn
ăn ra sao cho khoẻ mạnh, nó đều giúp ích bạn trong quá trình gặt hái thành công.
Thế giới quá rộng lớn, kiến thức như đại dương, hãy trang bị chính mình để chuẩn
bị cho những điều sắp tới.
2.
Nghiên cứu, tìm tòi công nghệ mới
Khi cả
thế giới chạy đua công nghệ, nếu bạn muốn giàu bạn cần phải đi trước hoặc ít ra
cũng phải bắt kịp thời đại. Đi trước có lẽ sẽ là điều phức tạp do tuỳ vào kiến
thức cùng khả năng nghiên cứu mà chúng ta đôi lúc đi vào ngõ cụt. Thế nhưng,
hiểu những công nghệ đang hiện hữu, áp dụng nó vào công việc hoặc sử dụng nó để
giải quyết khó khăn sẽ là điều nên làm.
Đôi khi,
có những ý tưởng được sinh ra nhưng rào cản công nghệ khiến nó nhanh chóng dập
tắt, đừng để điều này xảy ra với bạn.
3. Biết
về một thứ thôi là không đủ
Hãy nhìn
những triệu phú hay tỷ phú trên thế giới, họ hiểu rất rõ những gì mình làm từ
trong ra ngoài. Thế nhưng, đó không phải là tất cả, tầm hiểu biết của họ rộng
hơn thế rất nhiều.
Nếu muốn
giàu có, thành công đột phá, bạn phải hiểu thêm về cả những thứ có liên quan tới
việc bạn đang làm. Nếu chỉ mãi hiểu về một thứ, làm về một thứ, sự giàu có của
bạn luôn bị giới hạn. Thế nhưng, nếu hiểu biết nhiều, bạn có thể tận dụng nó để
phát triển thêm chân nhánh, mở rộng mô hình kinh doanh, đây mới là thứ mang về
cho bạn nguồn thu lớn.
4. Đừng
theo đuổi tiền, hãy theo đuổi giấc mơ và tiền sẽ tự
đến
Hãy nhìn
những tỷ phú nổi tiếng như Warren Buffett, Bill Gates hay Mark Zuckerberg, liệu
có thêm 1 tỷ hay 10 tỷ USD nữa có làm họ thoả mãn? Chắc chắn là không rồi, những
gì họ nhắm tới lớn hơn rất nhiều, đó chính là quyền lực, sự ảnh hưởng xã hội
cũng như khả năng thay đổi thế giới. Nếu làm việc chỉ nghĩ tới tiền, bạn sẽ
không đi xa được đâu.
Hãy xây
dựng giấc mơ của mình, cho dù nó là gì đi nữa. Nếu đạt được, hãy mở rộng nó và
biến nó thành thứ có ích cho xã hội, cho cộng đồng. Hãy tạo ra những thứ có thể
giúp ích cho mọi người và bạn có thể thoải mái thu tiền từ nó mà không cảm thấy
tội lỗi.
5. Tối
ưu hoá hết mức thời gian
Những
câu chuyện về triệu phú, tỷ phú hay mô tả một người làm việc thâu đêm, quên ăn
quên ngủ. Tất nhiên, bạn không cần phải làm những thứ đó, và có khi chưa chắc nó
đã giúp bạn giàu hơn.
Thế
nhưng, tối ưu hoá thời gian lại là chuyện khác. Khoảng thời gian của chúng ta
đều giống nhau, sử dụng chúng ra sao để có hiệu quả lớn hơn là điều bạn cần làm.
Đôi khi hãy tham lam một chút, tính toán một chút để có thể từ bỏ được những
điều tiêu tốn quá nhiều thời gian mà hiệu quả không tương đồng. Một khi tối ưu
hoá, làm chủ được thời gian bản thân, bạn sẽ làm chủ được cuộc
sống.
SOURCE:
TRI THỨC TRẺ tạp lắm!
Bắt đầu câu chuyện với PV Tiền Phong, chị Nguyễn Thị Oanh, nhân viên kế toán một công ty xây dựng tại Hà Nội than thở: “Mảng thuế TNCN thì phức tạp lắm”. Chị Oanh lấy ví dụ, trong lĩnh vực xây dựng, người lao động rất hay nhảy việc, nhiều người vừa ký hợp đồng 3 tháng với công ty A, làm hơn 1 tháng họ lại nhảy sang công ty B.
Khi công ty B ký hợp đồng và kê khai thuế mới phát hiện người lao động đó vẫn còn hợp đồng ở công ty A. Khi đó, thu nhập của người lao động sẽ được tính cộng dồn cả 2 hợp đồng và thường công ty B sẽ phải đứng ra kê khai và nộp thuế TNCN cho họ (gánh cả phần thuế TNCN cho phần thu nhập danh nghĩa ở công ty A). Như vậy, vô tình phần thuế của người lao động bị đẩy lên, nếu DN trừ lương người lao động họ lập tức bỏ việc đi chỗ khác.
Để tránh những rắc rối, không ít DN xây dựng chọn cách chỉ thuê một đội trưởng, người này tự đi tìm đội thợ, lương trả cho thợ công ty sẽ tìm cách khác để hợp thức hóa khoản chi. “Cách làm này cũng không dễ, nhưng DN tránh được những rủi ro về chấp hành thuế”, chị Oanh nói.
Ngoài ra, theo các DN, thu nhập chịu thuế của lao động ngắn hạn hiện nay tính ở mức quá thấp (trên 2 triệu đồng sẽ phải nộp thuế), trong đó tính cả các khoản phụ cấp, như tiền ăn trưa, đi lại, điện thoại, nhà trọ… Một số khoản phụ cấp được khấu trừ, nhưng đạt điều kiện được khấu trừ không dễ. Như để được khấu trừ phụ cấp nhà trọ, DN phải trình được hóa đơn chủ nhà trọ đã nộp thuế cho thuê nhà. Nhưng cả nước không được mấy nhà trọ nộp thuế.
Anh Đào Văn Lâm (ở Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội) kể, anh ủy quyền cho công ty thực hiện quyết toán thuế TNCN. Bất ngờ, tháng 9/2016, anh Lâm nhận được thông báo của Cục Thuế Hà Nội vì nộp thuế TNCN năm 2015 chưa đủ, phải nộp bổ sung gần 20 triệu đồng và chịu phạt chậm nộp. “Tìm hiểu, mới biết trước đó cán bộ kế toán công ty không biết từ năm 2015 tính thuế TNCN lũy tiến theo bậc thang, không còn một mức 10% như trước đây”, anh Lâm nói.
Nhiều thang bậc để công bằng?
Theo Bộ Tài chính, năm 2016, thuế TNCN đóng góp trên 57.000 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước (vượt qua đóng góp của ngành dầu khí). Năm 2017, dự toán thu thuế TNCN trên 80.000 tỷ đồng. Riêng 2 tháng đầu năm 2017, thu thuế TNCN đạt 15.932 tỷ đồng.
Hiện biểu thuế TNCN được tính lũy tiến và chia làm 7 bậc - thấp nhất 5% và cao nhất lên tới 35%, áp theo mức thu nhập chịu thuế từ dưới 5 đồng/tháng tới trên 80 triệu đồng/tháng. Nhiều ý kiến cho rằng, cách chia này quá dày, mức thu cao. Đặc biệt, khung thuế TNCN tối đa đang áp ở mức thu nhập quá thấp (từ trên 80 triệu đồng/tháng phải chịu thuế TNCN 35%).
Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, cho rằng, hiện các mức thuế TNCN quá nhiều bậc và dày. Bà Cúc lưu ý: Số bậc thuế có thể không cần bớt nhưng cần tăng khoảng cách thu nhập giữa các mức thuế. Như mức thuế TNCN 5% thay vì áp dụng cho người có thu nhập chịu thuế dưới 5 triệu đồng, có thể nâng lên 10 hoặc 15 triệu đồng/tháng... “Việc nới rộng như vậy tuy giảm số tiền thuế thu được của từng người, nhưng sẽ khuyến khích nhiều người hơn tham gia đóng thuế để bù vào, thay vì phải lách thuế. Như thế, người có thu nhập ở mức vừa phải có thêm tích lũy”, bà Cúc nói.
Lý giải về sự dày bậc này, ông Nguyễn Duy Minh, Phó Vụ trưởng Quản lý Thuế TNCN (Tổng cục Thuế) lại cho rằng: Việc chia mức thuế TNCN thành nhiều bậc, các bậc gần nhau nhằm đảm bảo người nộp thuế bình đẳng hơn. “Chia nhiều bậc đảm bảo công bằng hơn, nhưng phức tạp, chúng tôi đang nghiên cứu để có giải pháp tạo thuận tiện nhất cho người nộp thuế”, ông Minh nói.
Liên quan tới các quy định tính thuế TNCN với lao động ký hợp đồng ngắn hạn (đặc biệt lao động dưới 3 tháng), ông Minh cho rằng, quy định này còn liên quan tới tính thuế thu nhập DN. “Chi phí thuê lao động được tính là chi phí hợp lý để khấu trừ thuế với DN, nên nếu doanh nghiệp thuê ai phải có danh sách cụ thể, có kê khai thuế TNCN mới được trừ. Còn ngành thuế cho phép người lao động có mã số thuế cá nhân được tự cam kết mức lương chưa tới mức phải chịu thuế (dưới 9 triệu đồng/tháng – PV) để được miễn thuế”, ông Minh nói.
SOURCE: LÊ HỮU VIỆT
TIỀN PHONG
Theo bà Lê Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Thuế TPHCM, hằng năm tới kỳ quyết toán thuế, các cục thuế địa phương đều có chương trình tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. “Nhưng nhiều người không quan tâm, ít tìm hiểu, khi quyết toán mới cuống cuồng chạy khắp nơi, rồi quay ra đổ lỗi cho ngành thuế”, bà Hương nói.
Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017
KHÔNG NÊN ĐÁNH ĐỒNG TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Việc hướng dẫn thực hiện Luật các TCTD phải được xây dựng riêng, phù hợp với đặc thù của các tổ chức tài chính vi mô.
Đó là ý
kiến của ông Nguyễn Mạnh Cường – Hàm vụ phó (Văn phòng Chính
phủ) khi nói về thực trạng và các khuyến nghị chính sách cho
các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay.
Cụ thể,
ông Cường cho rằng việc Luật các TCTD ra đời năm 2010 đã chính thức công nhận tổ
chức tài chính vi mô là một trong những thành phần của hệ thống tài chính chính
thức ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc hướng dẫn thực hiện Luật các TCTD phải được xây
dựng riêng, phù hợp với đặc thù của các tổ chức tài chính vi mô; không nên đánh
đồng với các NHTM vì như thế sẽ là hạn chế kìm hãm sự phát triển của các tổ chức
tài chính vi mô – vốn được xem là nhân tố quan trọng trong công tác xóa đói giảm
nghèo.
Ông
Cường giải thích: Về bản chất hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô cũng
không giống như NHTM. Nếu như các NHTM huy động vốn từ nhiều người để cho vay
một số người thì rủi ro của cho vay của các NHTM là rủi ro đối với xã hội còn
với các tổ chức tài chính vi mô việc huy động nguồn vốn sẽ được chia thành những
món vai nhỏ dành cho người nghèo do đó rủi ro với xã hội gần như là không
có.
“Lịch sử
cho thấy trong tất cả các cuộc khủng hoảng vừa qua đều không ảnh hưởng đến các
tổ chức tài chính vi mô, tỷ lệ nợ mất vốn chỉ vào khoảng 0,08%. Do đó, cần có cơ
chế tạo điều kiện để tổ chức tài chính vi mô được phát triển ở Việt Nam” – Ông
Cường nói.
Nói về
những hạn chế cần sửa đổi ông Cường nêu ra một số kiến nghị như
sau:
Thứ
nhất, quy định về yêu cầu kho két và cơ sở vật chất hiện nay
không phù hợp với những đặc thù của các tổ chức tài chính vi
mô, thậm chí nó còn làm tăng chi phí chuyển đổi mà người cuối cùng phải gánh
chịu lại là những khách hàng – những người nghèo tham gia vay
vốn.
Thứ
hai, NHNN cũng phải điều chỉnh tổng dư nợ cho vay vì hiện nay mức tối đa
không quá 30 triệu đồng/khách hàng là không còn phù
hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của khách
hàng.
Thứ
ba, quy định phải thường xuyên duy trì tỷ lệ về khả năng chi
trả tổi thiểu bằng 20% tổng tài sản là cao và chưa phù hợp với đặc thù trong
hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô. Trong bối cảnh nguồn vốn đã ít
ỏi tổ chức tài chính vi mô còn phải gửi 20% số tiền vào các NHTM như vậy đã
khiến nguồn vốn bị tắc dẫn đến chi phí tăng, hạn chế cho người nghèo tiếp cận
được vốn.
Thứ
tư, lãi suất hiện nay của các tổ chức tài chính vi mô khoảng 20 –
25%. Sở dĩ lãi suất cao như vậy là do đặc thù của tổ chức tài chính vi
mô huy động vốn cao, cung cấp dịch vụ tại nơi khách hàng sinh
sống, vùng sâu vùng xa, lại không yêu cầu tài sản thế chấp… Do đó, cần
hoàn thiện quy định về lãi suất theo hướng cho các tổ chức tài chính vi mô được
tự thỏa thuận lãi suất trên cơ sở bù đắp đủ chi phí nhưng cũng không mang tính
chất bóc lột người nghèo.
Các yếu
tố cấu thành lãi suất suất của tổ chức tài chính vi mô hiện nay bao gồm: Huy
động vốn bình quân, chi phí hoạt động, chi phí dự phòng mất vốn và thu nhập lãi
ròng…. Vì thế theo ông Cường muốn các tổ chức tài chính vi mô có thể giảm được
lãi suất cho vay thì bên cạnh việc các tổ chức tài chính vi mô phải nâng cao
hiệu quả hoạt động để giảm chi phí, thì cam kết hỗ trợ từ Chính phủ và cơ quan
quản lý nhà nước là rất quan trọng.
SOURCE:
KHÁNH NHI (HẠNH LÊ)
TRÍ THỨC
TRẺ
Đó là ý
kiến của ông Nguyễn Mạnh Cường – Hàm vụ phó (Văn phòng Chính
phủ) khi nói về thực trạng và các khuyến nghị chính sách cho
các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay.
Cụ thể,
ông Cường cho rằng việc Luật các TCTD ra đời năm 2010 đã chính thức công nhận tổ
chức tài chính vi mô là một trong những thành phần của hệ thống tài chính chính
thức ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc hướng dẫn thực hiện Luật các TCTD phải được xây
dựng riêng, phù hợp với đặc thù của các tổ chức tài chính vi mô; không nên đánh
đồng với các NHTM vì như thế sẽ là hạn chế kìm hãm sự phát triển của các tổ chức
tài chính vi mô – vốn được xem là nhân tố quan trọng trong công tác xóa đói giảm
nghèo.
Ông
Cường giải thích: Về bản chất hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô cũng
không giống như NHTM. Nếu như các NHTM huy động vốn từ nhiều người để cho vay
một số người thì rủi ro của cho vay của các NHTM là rủi ro đối với xã hội còn
với các tổ chức tài chính vi mô việc huy động nguồn vốn sẽ được chia thành những
món vai nhỏ dành cho người nghèo do đó rủi ro với xã hội gần như là không
có.
“Lịch sử
cho thấy trong tất cả các cuộc khủng hoảng vừa qua đều không ảnh hưởng đến các
tổ chức tài chính vi mô, tỷ lệ nợ mất vốn chỉ vào khoảng 0,08%. Do đó, cần có cơ
chế tạo điều kiện để tổ chức tài chính vi mô được phát triển ở Việt Nam” – Ông
Cường nói.
Nói về
những hạn chế cần sửa đổi ông Cường nêu ra một số kiến nghị như
sau:
Thứ
nhất, quy định về yêu cầu kho két và cơ sở vật chất hiện nay
không phù hợp với những đặc thù của các tổ chức tài chính vi
mô, thậm chí nó còn làm tăng chi phí chuyển đổi mà người cuối cùng phải gánh
chịu lại là những khách hàng – những người nghèo tham gia vay
vốn.
Thứ
hai, NHNN cũng phải điều chỉnh tổng dư nợ cho vay vì hiện nay mức tối đa
không quá 30 triệu đồng/khách hàng là không còn phù
hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của khách
hàng.
Thứ
ba, quy định phải thường xuyên duy trì tỷ lệ về khả năng chi
trả tổi thiểu bằng 20% tổng tài sản là cao và chưa phù hợp với đặc thù trong
hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô. Trong bối cảnh nguồn vốn đã ít
ỏi tổ chức tài chính vi mô còn phải gửi 20% số tiền vào các NHTM như vậy đã
khiến nguồn vốn bị tắc dẫn đến chi phí tăng, hạn chế cho người nghèo tiếp cận
được vốn.
Thứ
tư, lãi suất hiện nay của các tổ chức tài chính vi mô khoảng 20 –
25%. Sở dĩ lãi suất cao như vậy là do đặc thù của tổ chức tài chính vi
mô huy động vốn cao, cung cấp dịch vụ tại nơi khách hàng sinh
sống, vùng sâu vùng xa, lại không yêu cầu tài sản thế chấp… Do đó, cần
hoàn thiện quy định về lãi suất theo hướng cho các tổ chức tài chính vi mô được
tự thỏa thuận lãi suất trên cơ sở bù đắp đủ chi phí nhưng cũng không mang tính
chất bóc lột người nghèo.
Các yếu
tố cấu thành lãi suất suất của tổ chức tài chính vi mô hiện nay bao gồm: Huy
động vốn bình quân, chi phí hoạt động, chi phí dự phòng mất vốn và thu nhập lãi
ròng…. Vì thế theo ông Cường muốn các tổ chức tài chính vi mô có thể giảm được
lãi suất cho vay thì bên cạnh việc các tổ chức tài chính vi mô phải nâng cao
hiệu quả hoạt động để giảm chi phí, thì cam kết hỗ trợ từ Chính phủ và cơ quan
quản lý nhà nước là rất quan trọng.
SOURCE:
KHÁNH NHI (HẠNH LÊ)
TRÍ THỨC
TRẺ
Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017
ÁP DỤNG CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ LIÊM CHÍNH TRONG KINH DOANH
Ngày 20 & 22/2, Đại sứ quán
Anh, tổ chức CENSOGOR (Towards Transprency), Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam
(VBF), và Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đã đồng tổ chức hội thảo
tham vấn hoàn thiện báo cáo về liêm chính trong kinh doanh tại Việt Nam tại Hà
Nội và TP Hồ Chí Minh
Nằm trong khuôn khổ Quỹ Thịnh vượng,
hội thảo là cơ hội để phía doanh nghiệp, nhà nước và các nhà nghiên cứu cùng
thảo luận cởi mở về kinh nghiệm
thực tiễn của doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh có tiềm ẩn rủi ro tham
nhũng theo luật định của Việt Nam cũng như luật định quốc tế.
Các bên đồng thời phân tích các điểm lợi cũng như thách
thức đối với doanh nghiệp khi áp dụng những biện pháp phòng chống tham nhũng,
hướng tới tăng cường hội nhập quốc tế và cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt
Nam.

---------------------
On 20 and 22 February in Hanoi and Ho Chi Minh City, The
British Embassy, CENSOGOR (Towards Transparency), the Vietnam Business Forum
(VBF) and the Vietnam Economics Policy and Research Institute (VEPR) co-hosted
the consultation workshop on the practical business integrity experiences in
Vietnam.
Under the Prosperity Fund, the workshop helped validate
the findings in the recent researches by VBF and CENSOGOR/ VEPR, and provided an
opportunity for the private sector, Government officials, and researchers to
openly discuss firms’ experience with high-risk business practices in Vietnam,
which may incur corruption under Vietnamese law and applicable international
laws, and to analyze the benefits and challenges when adopting anti-corruption
measures when doing business in Vietnam.
This is an activity under the Prosperity
Fund to promote the application of international standards on
business integrity to enhance international integration and improve business
environment in Vietnam.
SOURCE: UKINVIETNAM
Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017
HỘ BÁN PHỞ, BÚN BÒ,... SẼ KHÔNG ĐƯỢC VAY NGÂN HÀNG?
Bộ luật
Dân sự 2015 quy định chủ thể tham gia quan hệ dân sự chỉ bao gồm
pháp nhân và cá nhân. Để thực hiện quy định mới này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
đã ban hành Thông tư 39/2016 quy định khách hàng vay
vốn tại tổ chức tín dụng phải là pháp nhân, cá nhân.
Giải
thích rõ thêm về nội dung trên, ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc NHNN Chi
nhánh TP.HCM, nói: “Tại khoản 3 Điều 2 Thông tư 39 nêu rõ: Từ
ngày 15-3, các đối tượng không phải là pháp nhân (ví dụ như hộ kinh doanh, hộ
gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân) không đủ tư cách
chủ thể vay vốn tại các tổ chức tín dụng. Họ chỉ có thể vay vốn với tư cách là
doanh nghiệp (DN) hoặc cá nhân. Nói cách khác, việc vay vốn sẽ tiến hành bằng
danh nghĩa từng cá nhân, cá nhân tự chịu trách nhiệm trả nợ chứ không phải với
danh nghĩa hộ gia đình, hộ kinh doanh”.
Hộ kinh
doanh, hộ gia đình… lo lắng
Thông
tin trên khiến không ít hộ kinh doanh gia đình tỏ ra hoang mang, lo lắng. Ông
Nguyễn Viết Hải, chủ cửa hàng kinh doanh giày dép tại khu vực An Khánh, quận 2,
TP.HCM, kể để mở cửa hàng trên ông đã phải thế chấp căn nhà đang ở vay 350 triệu
đồng với lãi suất 12%/năm từ NH, kỳ hạn một năm.
“Mỗi
tháng riêng tiền lãi phải trả là 3,5 triệu đồng. Ngoài ra với hàng loạt khoản
thuế, phí phải chi như hiện nay, lời lãi thu về cũng chỉ đủ đáp ứng chi tiêu
trong gia đình. Tới đây tôi sẽ không được vay với lãi suất dành cho hộ gia đình
nữa mà chỉ có thể vay với tư cách cá nhân. Điều này cũng có nghĩa tôi phải đi
vay với lãi suất cao hơn so với trước đây. Nếu phải vay với lãi suất cao thì
chắc tôi chỉ còn nước sang nhượng lại cửa hàng này thôi” - ông Hải thở
dài.
Chị Bùi
Thanh Hạnh, chủ cửa hàng ăn uống ở chợ Thị Nghè, quận Bình Thạnh, TP.HCM, cho
biết công việc kinh doanh của chị mới bắt đầu được hơn bốn tháng. Giờ đây sắp
tới ngày đáo hạn kỳ hạn sáu tháng của khoản vay 150 triệu đồng từ NH. Theo quy
định mới của NHNN, chắc chắn hợp đồng vay sẽ phải thay đổi theo và chưa biết có
được vay nữa hay không vì nghe nói phải lên công ty mới được
vay.
“Lâu nay
tôi chỉ quen buôn bán nhỏ, không muốn lên công ty vì không đủ điều kiện quản lý
sổ sách, thủ tục thuế, thanh tra, kiểm tra... Tới đây buộc phải thành lập công
ty mới được vay tiền thì sẽ rất khó khăn cho tôi” - chị Hạnh lo
lắng.
Nhiều hộ
kinh doanh nhỏ lẻ khác cũng lo lắng trước quy định trên. Lý do là với người kinh
doanh thì ngoài vốn tự có, họ phải vay vốn NH. Nếu NH không cho vay nữa thì chưa
biết vay ở đâu.

Tới đây, hộ gia đình, hộ kinh doanh chỉ có thể vay vốn tín dụng với danh nghĩa từng cá nhân. Ảnh: HTD
Không
nên cứng nhắc
Luật sư
(LS) Trần Minh Hải, Giám đốc điều hành Công ty Luật BASICO, cho rằng: “Thực ra
quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư 39 là một điểm tiến bộ. Bởi những năm qua,
ngành NH gánh không biết bao nhiêu hậu quả pháp lý trong quá trình giao dịch
kinh doanh với hộ gia đình”.
LS Hải
phân tích từ xưa đến nay giao kết pháp lý giữa cá nhân và pháp nhân với NH được
ràng buộc một cách chắc chắn, tức là có làm có chịu, nên ngay cả khi có phát
sinh trách nhiệm thì tòa án sẽ rất dễ dàng giải quyết. Trong khi đó hộ gia đình
là thành phần mà theo tính pháp lý lại dựa trên sổ hộ khẩu, tất cả thành viên
trên 15 tuổi đều phải nhất trí thông qua các giao dịch lớn.
“Thực tế
là tòa án tiếp nhận hàng ngàn vụ tranh chấp giữa NH với hộ gia đình. Thời điểm
lập hồ sơ cho vay thì trong hộ khẩu chỉ có cha mẹ và các con, có tài sản bảo đảm
là chính căn nhà. Đến lúc gia hạn hợp đồng tín dụng lại không biết những người
con trong gia đình đó đã lập gia đình và sổ hộ khẩu nhập thêm con rể, con dâu.
Khi xử lý nợ, tòa án nhận thấy con dâu và con rể đều là thành viên trên 15 tuổi
và không ký vào biên bản để thông qua biên bản ký khi làm tài sản bảo đảm nên vô
hiệu hóa hợp đồng tài sản bảo đảm” - ông Hải dẫn chứng.
Chính vì
lẽ đó, theo ông Hải, sự thay đổi trong Thông tư 39 thoạt nghe có vẻ bất thường
nhưng xét về góc độ quản lý rủi ro pháp lý thì điều này lại tốt cho tổ chức tín
dụng. Lý do là nó quy định rõ ràng trách nhiệm đối với người tham gia giao
dịch.
Trao đổi
với báo chí, LS Trương Thanh Đức, Chủ tịch Câu lạc bộ Pháp chế NH, cũng cho rằng
quy định trên của Thông tư 39 nhằm xác định lại đối tượng vay vốn NH gồm pháp
nhân và cá nhân theo thông lệ chung của thế giới.
Ông Đức
nói: “Theo thông lệ thế giới, chỉ có hai loại chủ thể pháp luật dân sự là cá
nhân và pháp nhân. Hộ gia đình, hộ kinh doanh hay tổ hợp tác là chủ thể ảo, thực
chất là một hoặc một nhóm cá nhân, vì vậy bị xóa bỏ khỏi Bộ luật Dân sự
2015”.
Tuy
nhiên, giám đốc chi nhánh một NH tại TP.HCM cho rằng khi người đứng tên vay và
chịu trách nhiệm trả nợ với tư cách cá nhân thì đương nhiên họ sẽ phải chịu điều
chỉnh lãi suất theo cá nhân thông thường. Nghĩa là họ sẽ không còn được hưởng
một số lãi suất ưu đãi nhằm khuyến khích hộ sản xuất, kinh doanh
nữa.
Lâu nay,
tùy từng NH nhưng để khuyến khích hộ gia đình kinh doanh, lãi suất dành cho hộ
kinh doanh luôn thấp hơn khoảng 0,5%-1%/năm so với cho cá nhân vay kinh
doanh.
Do vậy,
Thông tư 39 mới nhìn một chiều, tức là nhìn về mặt pháp lý chứ chưa nhìn về mặt
thực tế cuộc sống. Đó là hiện nay đang tồn tại hàng triệu hộ kinh doanh cá thể
được hưởng chính sách riêng để khuyến khích đối tượng này phát triển chứ không
phải khuyến khích cá nhân.
“Từ thực
tế trên, tôi cho rằng NHNN phải có hướng dẫn cụ thể hoặc tạo một số điều kiện
riêng cho các hộ kinh doanh này, khi mà tới đây họ buộc phải đi vay với tư cách
là thể nhân và không còn được hưởng các quy định ưu đãi về lãi suất nữa. Một
chính sách thay đổi như vậy là quá đột ngột, đáng lẽ ra phải làm công tác tư
tưởng trước để người kinh doanh hiểu và tự nguyện thực hiện. Nếu áp dụng một
cách cứng nhắc và theo kiểu ép buộc có thể sẽ phản tác dụng” - vị giám đốc này
nhấn mạnh.
Nhiều hộ
kinh doanh cũng đề nghị cần phải có thời gian cần thiết để họ chuẩn bị cũng như
làm lại hợp đồng… với NH khi quy định mới có hiệu lực.
|
Vốn
với hộ kinh doanh rất quan trọng
Ông Vũ
Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nói với
khoảng trên năm triệu hộ kinh doanh hiện nay thì khối lượng công việc và của cải
họ tạo ra cho xã hội là rất lớn. Vốn đối với hàng triệu hộ kinh doanh này là rất
quan trọng.
“Vì vậy,
bất cứ chính sách nào liên quan đến vốn cho các hộ kinh doanh cũng cần tính đến
yếu tố này” - ông Lộc nói.
Theo
thống kê của VCCI, hiện Việt Nam có khoảng trên năm triệu hộ kinh doanh phi
chính thức và chính thức nhưng các hộ này đều chưa phải là DN.
|
SOURCE:
THÙY LINH
PHÁP
LUẬT VÀ ĐỜI SỐNG TPHCM